Người cao tuổi thường gặp nhiều vấn đề về sức khỏe, các bệnh tuổi già cũng xuất hiện ngày một nhiều. Một trong số đó là bệnh Alzheimer. Bệnh Alzheimer được coi là căn bệnh trầm trọng của não bộ, là nguyên nhân gây ra suy giảm trí nhớ, giảm khả năng tư duy (suy nghĩ, giải quyết vấn đề đặt ra hợp lý) và các kỹ năng cuộc sống bình thường.
1. Bệnh Alzheimer là gì?
Bệnh Alzheimer là một
trong những căn nguyên phổ biến gây chứng giảm trí nhớ ở người già, bệnh đặc
trưng bởi sự mất dần các nơron thần kinh và synap trong vỏ não và một số vùng
dưới vỏ. Bệnh có xu hướng nặng dần gây ảnh hưởng xấu tới các hoạt động sinh hoạt
hàng ngày, tới trí nhớ, hoạt động ngôn ngữ và tư duy của người bệnh.
Bệnh thường xuất hiện ở
người trên 65 tuổi. Tuy nhiên vẫn có thể đến ở độ tuổi từ 50 đến 65 tuổi.
2. Triệu chứng của bệnh alzheimer
Là bệnh lý thoái hóa tiến
triển theo từng giai đoạn với các triệu chứng khác nhau
2.1 Giai đoạn trước khi mất trí nhớ
- Thường xuyên cảm thấy
khó khăn trong việc nhớ các sự kiện gần đây và gần như không có khả năng tiếp
thu thêm thông tin mới.
- Giảm sự tập chung,
chú ý, thờ ơ với mọi việc.
- Giảm các khả năng lập
kế hoạch và tư duy trừu tượng.
- Suy giảm nhận thức nhẹ.
2.2 Giai đoạn nhẹ
- Sự suy giảm ngày càng
tăng về trí nhớ và khả năng học hỏi.
- Ở một số bệnh nhân xuất
hiện các triệu chứng suy giảm chức năng ngôn ngữ bao gồm các biểu hiện như giảm
vốn từ, giảm sự lưu loát dẫn đến giảm khả năng nói và viết.
- Quên một số việc đã xảy
ra trong quá khứ, quên cách sử dụng một vật dụng nào đó.
- Bắt đầu xuất hiện các
triệu chứng khó phối hợp vận động nhưng thường nhẹ và dễ bị bỏ qua.
2.3 Giai đoạn khá nặng
- Người bệnh mất dần khả
năng thực hiện các hoạt động vận động sinh hoạt hàng ngày.
- Khó khăn về mặt ngôn
ngữ rõ hơn: người bệnh không nhớ được từ vựng, dùng sai từ để diễn tả, luôn phải
cố tìm từ ngữ để diễn tả những điều muốn nói, khả năng đọc viết dần mất đi.
- Giảm khả năng phối hợp
vận động có thể nhận thấy rõ, nhất là những động tác phức tạp, vì vậy người bệnh
dễ bị ngã.
- Giảm trí nhớ trở nên nghiêm
trọng hơn, ở giai đoạn này người bệnh có thể không nhận ra được người thân.
- Thay đổi hành vi: Thường
xuyên đi lang thang, khó chịu, tính khí trở nên hung hăng, phản kháng lại sự
chăm sóc của người thân.
- Hội chứng thay đổi
tính khí lúc hoàng hôn có thể xuất hiện.
- Một số người bệnh có
triệu chứng ảo giác.
2.4 Giai đoạn nặng
- Mất khả năng sinh hoạt
hàng ngày, người bệnh phải phụ thuộc hoàn toàn vào người chăm sóc.
- Khả năng ngôn ngữ giảm
chỉ còn nói được những cụm từ đơn giản, thậm chí là những từ đơn, cuối cùng dẫn
đến mất hoàn toàn ngôn ngữ.
- Thờ ơ và cảm thấy kiệt
sức.
- Thoái hóa các khối cơ
khiến người bệnh phải nằm liệt giường và mất khả năng tự ăn uống.
- Cuối cùng bệnh nhân
Alzheimer thường tử vong do các nguyên nhân như: nhiễm trùng vết loét do tì đè,
viêm phổi, dinh dưỡng....
3. Nguyên nhân gây bệnh alzheimer
Nguyên nhân gây bệnh hiện
chưa được xác định một cách rõ ràng, tuy nhiên các nhà khoa học có đưa ra một số
giả thuyết về nguyên nhân gây bệnh Alzheimer:
- Do sự tích tụ của một
loại protein ở trong não dẫn đến chết dần các tế bào não.
- Quá trình lão hóa gây
ra sự phá hủy các myelin làm giảm quá trình dẫn truyền thần kinh, kết quả làm
chết các tế bào thần kinh.
- Do rối loạn quá trình
sản xuất và hoạt động của các chất oxy hóa trong cơ thể.
4. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh alzheimer
Các yếu tố nguy cơ của
bệnh Alzheimer bao gồm:
- Tuổi cao
- Yếu tố gia đình: tiền
sử có người trong gia đình mắc bệnh
- Mắc hội chứng Down
- Giới: Nữ giới mắc nhiều
hơn nam
- Tiền sử chấn thương sọ
não đặc biệt ở những giai đoạn cuối đời
- Mắc bệnh trầm cảm muộn
sau 65 tuổi.
- Ít vận động và chế độ
ăn uống ít rau xanh, trái cây.
- Ít thực hiện các hoạt
động trí tuệ như: đọc sách, chơi trò chơi liên quan tới trí tuệ
- Mắc các bệnh tim mạch,
tăng cholesterol, đái tháo đường và hút thuốc lá.
5. Điều trị bệnh alzheimer
5.1 Nguyên tắc điều trị bệnh alzheimer
- Bệnh alzheimer là bệnh
tiến triển nặng dần và không có thuốc điều trị khỏi bệnh, mục tiêu điều trị là
làm chậm quá trình tiến triển bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống, hạn chế
các tác động tiêu cực của bệnh với cuộc sống.
- Kết hợp với các chế độ
chăm sóc và chế độ ăn uống, sinh hoạt.
5.2 Điều trị dùng thuốc
Sử dụng các thuốc làm
chậm tiến triển của bệnh và kết hợp các thuốc điều trị triệu chứng kèm theo:
- Thuốc làm chậm tiến
triển của bệnh bao gồm: thuốc kháng cholinesterase (ví dụ: Galantamine,
Rivastigmine...), Memantine - là chất kháng thụ thể N-methyl-D-aspartate có tác
dụng tăng dẫn truyền synap (thuốc này có ít tác dụng phụ hơn thuốc kháng
cholinesterase.
- Các thuốc điều trị
triệu chứng: điều trị mất ngủ, rối loạn hành vi, các thuốc chống loạn thần....
- Điều trị các bệnh kèm
theo nếu có: Các bệnh tim mạch, tăng cholesterol, đái tháo đường.... trường hợp
bệnh nhân phải nằm lâu điều trị viêm phổi, chăm sóc hạn chế các vết loét do tì
đè...
5.3 Chế độ chăm sóc người bệnh
Người bệnh thường xuyên
không thể kiểm soát được hành vi của mình, có khi ở giai đoạn muộn người bệnh
không thể tự chăm sóc bản thân người chăm sóc nên:
- Luôn theo sát và tạo
môi trường sống an toàn tránh các vật có thể gây nguy hiểm cho người bệnh.
- Trò chuyện với người
bệnh thường xuyên để tạo cảm giác vui vẻ và an toàn, hỗ trợ người bệnh về trí
nhớ các việc cần phải làm trong ngày như: Đánh răng, rửa mặt, thay quần áo...
- Hỗ trợ vận động cho
người bệnh: Do người bệnh có thể mất phối hợp vận động nên có thể dễ bị ngã.
- Đối với người bệnh
không thể di chuyển được cần giúp người bệnh thay đổi tư thế thường xuyên,
tránh các bệnh do nằm lâu gây ra.
5.4 Chế độ ăn uống và sinh hoạt
- Tăng cường ăn rau
xanh và hoa quả, hạn chế đồ ăn nhiều mỡ, các đồ uống có chứa cồn, không hút thuốc
lá.
- Bổ sung các thực phẩm
có nhiều vitamin E (chống oxy hóa, chống gốc tự do), vitamin C, axit folic(
vitamin B9)...
- Tăng cường các hoạt động
thể dục thể thao.
- Tích cực tham gia các
hoạt động trí tuệ như: đọc sách, trò chơi các câu đố hoặc tích cực tham gia hoạt
động xã hội cũng giảm nguy cơ mắc bệnh.
Nguồn:
VienDuongLao.com


